|
Mỹ
Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70 km
về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng
kín đáo.
Mỹ
Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những dòng chữ ghi trên
tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết
vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva-
Bhadresvara. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ
đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.
Vào
đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những
vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó
đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị
thần của họ.
Với
hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7
đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của
Vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc
hình tượng của thần Siva - Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần
được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu
tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở
thành tín ngưỡng chính thờ thần - vua và tổ tiên hoàng tộc.
Vào
năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là
M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ XX này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông
Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H.
Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu
khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký
và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.
Tiền
thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo căn bia để lại là một
ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Diva Bhadresvera. Nhưng đến khoảng cuối thế
kỷ VI, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được
các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều
đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm
suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế kỷ XV. Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch,
trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp
độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng
tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc
thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu
tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho
đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân
tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến trúc
chămpa cũng như của Đông Nam Á
Mỗi
thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ
những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu
ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác,
chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp
tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình
người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử...
động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người.
Theo
các nhà nghiên cứu tháp Chàm cổ, nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm tại Mỹ
Sơn hội tụ được nhiều phong cách; mang tính liên tục từ phong cách cổ thế kỷ
VII đến thế kỷ VIII; phong cách Hoà Lai thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ IX; phong
cách Ðồng Dương từ giữa thế kỷ IX; phong cách Mỹ Sơn và chuyển tiếp giữa Mỹ
Sơn và Bình Ðịnh; phong cách Bình Ðịnh... Trong nhiều công trình kiến trúc
còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà
các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chăm Pa, có 2
của ra vào phía Ðông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống
cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh
sen. Tầng trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt
tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái. Nhưng ngôi
tháp giá trị này đã bị không lực mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969.
Sau
khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc
biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những
con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố
Ðà Nẵng xây dựng thành bảo tàng kiến trúc Chămpa. Tuy không phải là nhiều,
nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu,
nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, có là những chứng
tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng
Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.
|
|