| -Khu lăng: nằm ở bên phải, trước có hồ Nhuận Trạch thông với hồ
Ðiện. Sau hồ Nhuận Trạch là nghi môn bằng đồng dẫn vào Bái đình (sân
chầu) rộng lớn. Hai hàng tượng đá ở hai bên Tả, Hữu của sân là tiêu biểu
của nghệ thuật tạc tượng nửa đầu thế kỷ XIX ở Huế.
Bi đình và lầu Ðức Hinh toạ trên quả đồi cong dạng mai rùa. Hiện
nay lầu Ðức Hinh đã bị sụp đổ. Bi đình còn gọi là Phương đình có tấm
bia khắc 2500 chữ của vua Tự Ðức ca ngợi công đức của vua cha.
Qua hồ Ngưng Thuý có 3 cây cầu là Chánh Trung (giữa), Ðông Hoà
(Phải), Tây Ðình (trái) là đến tam cấp vào Bửu Thành - chỗ đặt thi hài vua
Thiệu Trị.
- Khu tẩm (điện thờ): xây dựng riêng, cách lầu Ðức
Hinh 100 m về phía trái. Qua Nghi môn bằng đá cẩm thạch, bước lên 3 bậc tam
cấp qua Hồng Trạch môn là đến điện Bửu Ðức. Ðiện Bửu Ðức là nơi thờ
bài vị của vua và bà Từ Dũ (vợ vua). Trong chánh điện trên những cỗ diêm ở
bộ mái và ở cửa Hồng Trạch có khắc trên 450 ô chữ chạm khắc các bài thơ
có giá trị văn học và giáo dục. Các công trình phụ thuộc như Tả Hữu Phối
điện (trước), Tả và Hữu tùng viện (sau) quây quần xung quanh điện Bửu Ðức
càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm của chính điện.
Lăng Thiệu Trị còn đó với vẻ đẹp giản đơn, gần
gũi, dựa lưng vào chân núi Thuận Ðạo, gần trước mặt lăng là cả một vùng
đất bằng phẳng cây cối xanh tươi, ruộng đồng mơn mởn trải dài từ bờ sông
Hương tới tận cầu Lim.
|