Sau đó 10 năm, vì triều đình Huế
áp dụng chính sách đối ngoại hẹp hòi, thực dân Pháp tấn công Ðà Nẵng
(1858) rồi vào đánh chiếm Gia Ðịnh (1859) và một số tỉnh khác ở Nam Kỳ
(1862)... vua Tự Ðức đã là người hấp thụ khá đầy đủ nền văn hóa và
triết học Ðông phương với một mâu thuẫn nội tại của nó giữa cái tích cực
lúc trẻ và tiêu cực lúc già, giữa sự sống và cái chết. Càng thất bại
trước việc nước nhà khi càng luống tuổi,ông càng bi quan yếm thế. Nhà vua
nghĩ đến cái chết tất nhiên sẽ đến với đời mình, và để vơi bớt những
dằn vặt khổ đau trong những quãng đời còn lại, cho nên hạ lệnh xây dựng
lăng tẩm như một hoàng cung thứ hai để thỉnh thoảng lên đây tiêu khiển,
nghỉ ngơi, và cũng để làm "ngôi nhà lâu đài của trẫm" (vi ngô
vĩnh vũ, trích bài Khiêm Cung Ký).
Ðứng
trong thời đại ngày nay nhìn lại hoàn cảnh khó khăn bấy
giờ của đất nước, qui mô kiến trúc lớn lao tốn kém của lăng vua, và các
danh xưng Khiêm cung, Khiêm Lăng được dùng để đặt tên cho nó, chúng ta
thấy đó cũng là một mâu thuẫn nội tại khó biện minh được của chính nhà
vua.
Nhưng dù sao sau khi xây lăng xong, vua Tự Ðức cũng còn
sống thêm 16 năm nữa, cho đến năm1883, thọ 55 tuổi.
Sau khi các quan chuyên môn về địa lý
đi coi đất và chọn được vị trí ở làng Dương Xuân Thượng, vua Tự Ðức
đã "chuẩn định" đồ án kiến trúc lăng tẩm theo sở thích của mình
vào tháng 10/1864. Nhưng còn
phải coi ngày cho tốt nữa, nên đến tháng 12 năm ấy mới khởi công xây dựng.
Toàn
bộ công tác kiến trúc lăng tẩm này được dự liệu sẽ thi công trong 6 năm với 3.000 lính và thợ, và họ sẽ được thay phiên về
nghĩ 3 tháng một lần. Nhưng viên Biện lý bộ Công bấy giờ là Nguyễn Văn
Chất tâu xin thực hiện trong 3 năm mà thôi. Triều đình cử ông và thống chế
Lê Văn Xa ở bộ Binh đứng ra coi sóc việc thi công.
Ðã không được thay phiên nhau về nghỉ lại bị cưỡng tăng cường sức
lao động đến mức tối đa trong những điều kiện tối thiểu, 3.000 lính và thợ
bất mãn ấy đã nghe theo tiếng gọi nổi dậy của Ðoàn Trưng.
Ðêm
16 rạng ngày 17/9/1866 họ
dùng chiêu bài tôn phò "Ngũ đại hòan tôn" kéo về Kinh thành để
lật đổ ngài vàng của vua Tự Ðức nhằm đưa Ưng Ðạo, cháu nội 5 đời của
vua Gia Long lên ngôi, nhưng khi vào đến được điện Thái Hòa thì bị quân
của triều đình phản ứng mạnh, nên thất bại.
Cuộc nổi loạn bị dập tắt hoàn tòan. Một tai nạn của vua Tự
Ðức đã qua đi, nhưng uy tín của nhà vua bị tổn thương không ít, vì đây
không phải là một cuộc ngoại xâm, mà là một cuộc nổi biến ngay giữa lòng
triều đình Trung ương.
Trong
số 13 vua Nguyễn, vua Tự Đức là người uyên
thâm nhất về nền học vấn Ðông Phương, nhất là Nho học. Vua giỏi về cả sử
học, triết học, văn học nghệ thuật và đặc biệt là rất sính thơ. Vua đã
để lại 600 bài văn và 4.000 bài thơ văn chữ Hán và khoảng 100 bài thơ chữ
Nôm. Thơ văn nhà vua phản ánh một con người nhân hậu, một tâm hồn đa cảm,
một tư chất hâm mộ nghệ thuật. Tư chất ấy cũng biểu lộ rõ trên nghệ thuật
kiến trúc của lăng vua. Sử cho biết chính nhà vua đã "chuẩn định"
(décider) mô thức xây dựng nó. Trong
vòng La thành rộng khoảng 12 ha, gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ dàn trải
thành cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhau chừng 10m. Nhưng,
các hệ thống thống bậc cấp lát đá thanh, các lối đi quanh co lát gạch bát
tràng đã nối tất cả các công trình kiến trúc lại thành một thể thống
nhất, tương quan, gần gũi.
qua khỏi Khiêm Cung
Môn, cửa tam quan hai tầng dựng trên một thế đất cao, người ta bước vào một
hệ thống cung điện gồm vài chục tòa nhà lớn nhỏ và các công trình kiến
trúc phụ thuộc.
Tòa ngang dãy dọc nơi đây đã
được dành cho vua và đoàn cung nữ tùy tùng thỉnh thoảng lên ở lại vui
chơi. Riêng Minh Khiêm Ðường, ngày nay đuợc xem là nhà hát xưa nhất Việt
Nam và mang giá trị nghệ thuật kiến trúc trang trí. Ðiện Hòa Khiêm, nơi thờ
đế và hậu, hiện còn chứa nhiều đồ ngự dụng và các tác phẩm mỹ thuật
đương thời.
Nếu nhà cửa ở Khiêm Cung đều
làm bằng gỗ thì tất cả các công trình kiến trúc ở khu vực lăng mộ bên kia
đều được xây bằng gạch, đá.
Ðáng để
ý nhất là tấm bia lớn nhất Việt Nam cao chừng 5m, được bảo vệ bằng một tòa nhà đồ sộ kiên cố
với cột to, vách dày và xây cửa cuốn. Các nhà kiến trúc đã cho xây Bi
đình bằng vật liệu và kiểu thức như vậy là dùng để chống chọi với thời
gian. Trên ngọn đồi nằm bên kia hồ bán nguyệt Tiểu Khiêm Trì là Bửu Thành
xây bằng gạch và chính giữa có ngôi nhà nhỏ xây bằng đá thanh, nơi vua yên
nghỉ. Bửu thành được bao phủ bởi một rừng thông xanh ngắt, reo vi vu suốt
bốn mùa.
Ngoài
ra, hệ thống tháo thoát trong toàn lăng
tẩm
đã được thiết kế, xây dựng một trình độ cao, và lưu thông rất tốt.Nhìn
chung, mỗi công trình kiến trúc trong lăng Tự Ðức đều mang một đường nét
khác nhau về nghệ thuật tạo hình: không trùng lặp và rất sinh động.
Cách phân bố các khu vực và bố cục các công
trình kiến trúc trong từng khu vực ở lăng Tự Ðức đã phá bỏ hệ thông lệ
giữ gìn sự đối xứng từng cổ điển ở một số lăng khác. Tại đây còn có
những lối đi uốn lượn mềm mại theo thế đất tự nhiên hoặc do bàn tay con
người tạo dáng. Ðường nét kiến trúc thật phóng khóang, hài hòa thiên
nhiên có sẵn, hoặc cải tạo lại cho phù hợp với nghệ thuật kiến trúc phong
cảnh.
Nếu phá vỡ sự đối xứng cũng là một nét đẹp trong nghệ thuật thì lăng Tự
Ðức có thêm nét đẹp đó. Kiến trúc và thiên nhiên ở đây gây được
nhiều cảm xúc thẩm mỹ mới lạ cho người đến tham quan, và phản ánh được
tâm hồn lãng mạn trữ tình của một ông vua thi sĩ.
lăng Tự Ðức là một
bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình, gợi cho du khách một
"hồn êm thơ mộng" (une douce rêve).
|