NGUYỄN PHÚC
ÁNH TÊN HUÝ LÀ CHỦNG, SINH NĂM NHÂM
Ngọ (1762), con thứ ba của Nguyễn Luân. Năm 1773, Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn
Phúc Ánh 12
tuổi, theo chúa
Nguyễn Phúc Thuần vào Quảng Nam. Mùa thu năm Ðinh Dậu (1777) Nguyễn Phúc Thuần
tử trận, Nguyễn Phúc Ánh
một mình chạy thoát ra đảo Thổ Chu, rồi sau chạy sang ẩn náu nhờ bên đất
Xiêm.
Tháng 7 - 1792, vua Quang Trung mất, con là Quang Toản còn ít tuổi,
Nguyễn Ánh tổ chức tấn công
và đến
tháng 7-1802, Nguyễn Ánh diệt xong nhà
Tây Sơn
lên ngôi
hoàng đế, niên
hiệu là Gia Long đóng đô tại thành Phú Xuân (Huế) và đặt tên nước là Việt Nam.
Lần đầu Gia Long quản lý một nước Việt Nam thống nhất từ Bắc
chí Nam, từ Lạng Sơn đến Hà Tiên, Gia Long chia cả nước làm 23 trấn, 4 doanh.
Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại
trấn); từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Ðịnh thành gồm 5 trấn; ở quãng
giữa là các trấn độc lập: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Ðịnh, Phú
Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, đất kinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Ðức Doanh
(tức Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh, Quảng Nam doanh.
Ðể tránh lộng quyền, Gia Long không đặt chức Tể tướng, triều
đình chỉ có 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công do các Thượng thư đứng
đầu và có Tả hữu tham tri, Tả hữu thị lang giúp việc. ở trong cung, không
lập ngôi Hoàng hậu, chỉ có Hoàng Phi và các cung tần.
Năm 1815, bộ " Quốc triều hình luật " gồm 22 quyển với
398 điều luật đã được ban hành.
Ngày Ðinh Mùi tháng 12 năm Kỷ Mão (1819), Gia Long mất, thọ 59
tuổi, ở ngôi chúa 25 năm, ở ngôi vua 17 năm.