|
Từ năm 1883 đến năm 1885, vì gặp một giai đoạn éo le
của lịch sử triều Nguyễn, vua Ðồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên
nối ngôi cha nuôi là vua Tự Ðức. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên
đền Ngọc Trản cầu đảo và hỏi Thánh Mẫu Thiên Y A Na xem mình có làm vua
được không. Mẫu cho biết ông sẽ toại nguyện.
Bởi vậy, sau khi tức vị, năm
1886, vua Ðồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang
trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ, và đổi tên ngôi đền
là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu. Huệ Nam nghĩa
là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam. Có một điều kỳ lạ chính vua Ðồng Khánh
đưa cuộc lễ hằng năm tại đây vào hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ
đệ của Thánh Mẫu, mặc dù nhà vua chỉ gọi thánh mẫu bằng "Chị".
Theo nguyên tắc xưa, ông vua nào cũng đứng trên các thánh thần trong cả
nước, nhưng ở đây vua Ðồng Khánh lại hạ mình xuống làm "em" của
Mẫu. Hiện nay trong đền vẫn còn thờ vài bức tranh ảnh của chính nhà vua.
Ngày nay, điện Hòn Chén được
nhiều người biết đến không phải vì đó là một di tích tôn giáo cho bằng
đó là một di tích kiến trúc phong cảnh. Công trình kiến trúc tôn giáo ấy
đã được người xưa lồng vào trong một cảnh thơ mộng hữu tình của núi
sông xứ Huế.
Có một dãy núi thấp ăn từ chân Trường
Sơn chạy về phía đồng bằng của Huế, bị một đoạn của sông Hương chặn
đầu tả ngạn. Cả dãy núi như bị dồn ép nguồn sinh lực ở đây, tạo thành
một ngọn núi có vẻ biệt lập, cây cối mọc xanh um, đứng cheo leo bên bờ vực
thằm, đó là chỗ sâu nhất của sông Hương. Người xưa đã chọn hòn núi
Ngọc Trản ấy để dựng đền thờ.
Trên đỉnh núi có một chỗ đất trũng xuống, đường
kính vài mét, chung quanh có vòng đá dựng như bờ giếng hễ gặp mưa thì
nước đọng lại, trông như cái chén đựng nước trong. Cho nên từ xa xưa, hòn
núi được đặt tên Ngọc Trản (núi Chén Ngọc) và dân gian gọi là Hòn Chén.
Trong một tờ thần sắc ban cho đền năm
1886, vua Ðồng Khánh đã ví toàn cảnh thiên nhiên ở đó như hình thế một
con sư tử đang nằm thò đầu xuống sông uống nước.
Khoảng 10 công trình kiến trúc xinh xắn của ngôi đền đều nằm
ở lưng chừng sườn đông nam thoai thoải của ngọn núi, ẩn mình dưới bóng
dâm của một khóm rừng cổ thụ tàn lá sum sê. Những hệ thống bậc cấp chạy
từ đền cao xuống tận bến nước trong xanh. Mặt sông phẳng lặng như gương,
được dùng cho toàn cảnh thiên nhiên và kiến trúc nghiêng mình soi bóng. Dù
thuyền cập bến, đứng nhìn lên, khách dễ tưởng mình đang lạc vào một chốn
thần tiên.
Mặt bằng kiến trúc của toàn bộ ngôi đền không rộng, gồm
điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải
là Nhà Quan Cư, Trinh Cát Viện, Chùa Thánh; bên trái là là Dinh Ngũ Vị Thánh
bà; Bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ, con cọp), Am Ngoại
Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là Am Thủy Phủ. Trên mặt bằng
kiến trúc ấy, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây,
như Am Cô Ngọc Lan, Am Trung Thiên...
Nhưng đáng để ý nhất trong tất cả vẫn là Minh Kính Ðài. Xây
dựng năm 1886 dưới thời vua Ðồng Khánh với mặt bằng 15m x17m, nó được chia
làm 3 cung (theo thứ tự từ cao xuống thấp và từ sau đến trước căn cứ vào
chức năng thờ phụng).
Minh Kính Cao Ðài Ðệ Nhất Cung: còn gọi là Thượng Cung hay
Thượng Ðiện, chia làm 2 tầng. Tầng trên thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Thánh
mẫu Vân Hương, ảnh vua Ðồng Khánh và một số thần thánh cao cấp khác trong
tôn giáo; tầng dưới dùng làm chỗ tiếp khách và nơi ở của người thủ từ...
Minh Kính Trung Ðài Ðệ Nhị Cung: Còn gọi là Cung Hội Ðồng,
giữa xây bệ thờ cao và lớn, cung này thờ hàng chục tượng thần thánh khác
nhau,có cả tượng Phật nữa, và dùng làm nơi thiết trí các đồ thờ dùng để
rước sắc trong những dịp lễ lớn: Võng Cung Nghinh Mẫu, Phụng Liễn, Long
Ðình...
Minh Kính Tiểu Ðài Ðệ Tam
Cung: Còn gọi là Tiền Ðiện, nơi có xây một hương án lớn, hai bên đặt
trống chuông, là chỗ cử hành tế lễ. Nơi đứng cúng lạy của khách hành
hương còn được nới rộng thêm bằng một mái hiên và cái sân ở mặt trước
tòa nhà.
Trên bờ nóc quyết của Minh Kính đài cũng như các công trình
kiến trúc khác ở chung quanh, hình ảnh con phụng được dùng nhiều để trang
trí, vì con phụng tượng trưng cho đàn bà, ở đây là các nữ thần. Nó cũng
được dùng để trang trí rất nhiều trên các đồ tự khí.
Phần lớn các đồ thờ quý báu ở Minh Kính Ðài đều ghi rõ là
làm ra dưới thời vua Ðồng Khánh. Nhìn chung thì thấy trang hoàng rất bề bộn,
nhưng có nhiều thứ lạ mắt đối với người xem.
Ðứng ở các hệ thống bậc cấp
dẫn xuống bến để nhìn ra viễn cảnh trước mặt, người ta thưởng thức được
một bức tranh sơn thủy vẽ bằng gam màu xanh với các độ đậm nhạt khác nhau
của dòng sông, làng mạc, núi non, hàng hàng lớp lớp trải rộng vươn dài.
Gần nhất bên phải là hòn núi Kim phụng uy nghi đồ sộ. Ngay bên trái đền,
vách đá cheo leo trên bờ dốc thẳm, cùng với tượng cọp trừng mắt đứng nhìn
dưới vòm động thâm u, dường như được dùng làm mối nguy hiểm đe dọa
thường xuyên đối với những người yếu bóng vía và làm tăng thêm vẻ linh
thiêng thần bí của các thần thánh đối với "con tôi đệ tử" của
Thiên Tiên Thánh Giáo.
Có một điều thú vị nữa đối với du khách, nhất là các nhà
nghiên cứu dân tộc học, là trong khi ở Hổ Quyền bên kia sông Hương, con cọp
phải đưa ra đấu trường để bị tiêu diệt, thì ở điện Hòn Chén bên này
sông, con cọp lại được thờ cúng kính cẩn như một vị thần linh.
Ðiện Hòn Chén thật xứng đáng được liệt vào hàng danh lam
thắng cảnh số một của cố đô.
|